phunu8_news_0.png

31/07/2015 - 09:34

Nhà Sáu Thiệt mới qua từ hôn sáng nay.

Vừa bước đến ngạch cửa, tôi đã nghe giọng cha tôi đanh thép như có lửa nóng hổi nhưng gằn rõ từng lời một lạnh ngắt (ôi, nóng lạnh xưa nay vốn dĩ có hợp đâu, sao giờ có thể sống chung với nhau trong trạng thái của ông già tôi vậy cà). Trên bộ ván ngựa, má tôi đang ngồi rưng rức tựa thể ấm ức lắm. Anh Hai có vẻ trầm ngâm hơn, ra chiều bất cần (hay bất lực chẳng biết). Hèn gì nhà nhắn tôi về gấp, cứ tưởng chuyện đại sự tang chế gì. Trên đường về, tôi cứ hoang mang, thấp thỏm, cố nghĩ xem mình có quên ngày gì long trọng không (như thượng thọ, giỗ quẫy ông cố, ông sơ, ông sờ nào chẳng hạn). Thành phố Hồ Chí Minh cách Long An có bao xa mà cả nửa năm ông bà già muốn nhìn mặt đứa con gái rượu một lần cũng đã khó lắm. Cái nghề văn là vậy: tìm kiếm tư liệu, ghi ghi, chép chép, viết lách, sống chết cho đứa con tinh thần rồi thì đưa ra nhà xuất bản, người ta mua nó. Chỉ thế, hết ngày, hết giờ, lai rong ruổi săn lùng những ý tưởng khác, ngược xuôi truy đuổi một số phận nào đó đem vào trang viết. Chuyện này xảy ra cũng là cái lẽ thường tình, tất yếu phải vậy thôi. Má tôi nghẹn ngào:

- Người ta làm vậy là làm nhục cái gia đình mình.

- Thôi mà má, bỏ đi, tiếc gì? Tôi ôm vai má.

- Sao mày dửng dưng như không vậy con? Năm năm trời qua lại, giờ nói bỏ là bỏ, gạt đi như gạt tàn thuốc vậy, coi được hả?

Chứ còn biết làm sao bây giờ, người ta đã xem như không thì thôi bởi cái nghĩa, cái tình nó trống rỗng, tròn trĩnh một con số không thì đòi hơn cũng chẳng được.

- Sính lễ cũng đã trao rồi mà còn tráo trở, lật lọng. Ừ, sính lễ, phải rồi. Má nhắc tôi mới nhớ.

- Đâu hả má?

- Bây hỏi cái gì? Cái gì đâu?

- Thì sính lễ đó. Má để đâu? Đưa đây, con đem trả cho nhà người ta má à!

- Trời đất, thánh thần, thiên địa ơi! Bây nói tỉnh rụi vậy? Ai đời con gái bị từ hôn lại đem sính lễ qua hoàn lại người ta bao giờ.

- Chứ mình còn giữ làm gì má?

- Tao trả rồi nhưng người ta không lấy. Coi như bỏ. Cha tôi nói còn tỉnh hơn tôi nhưng tôi biết ông đau. Ừ đau lắm. Không đau sao được. Cha đâu có ngờ bác Sáu, người đồng đội vào sinh ra tử ngày nào trong kháng chiến, giờ trở mặt như trở bánh tráng. Nhớ cái hồi nằm vùng ở Bến Tre, ăn bụi ngủ hầm, cha với bác Sáu đã hứa kết thông gia, câu hứa nặng như một lời thề. Vậy mà...

- Thằng Thà nó mới tệ. Tại nó hổng hết bụng hết dạ với con Văn này chứ còn nếu nó quyết, cha má nó có cản nổi đâu.

Anh Hai ngồi tư lự nãy giờ, giờ mới lên tiếng như thể ảnh đã suy nghĩ lâu lắm, cặn kẽ lắm để rút tỉa, đút kết ra điều đó tựa một chân lý. À à, phải rồi, anh Hai mình ổng nói đúng chứ có sai vào đâu.

- Cái thằng cũng tệ thiệt. Hay bây có làm gì quấy?

- Có gì đâu, cha! Tại người ta hổng thích, người ta quên mất tiêu mất tích rồi thì thôi.

- Cái nhà đó cha Thiệt con Thà mà sao....

Má nói tới đó rồi im bặt để giữ lại tiếng nấc trong cổ họng hay không dám nói nặng lời thêm vì sợ làm cha tôi đau lòng, dù gì cũng chỗ thâm giao thân tình xưa rày của ông. Rồi cả nhà quay nhìn tôi. Cả ba cặp mắt dồn chằm chằm vào đứa con gái mà họ cho là đáng thương. Chắc họ muốn xem thử tôi phải ứng thế nào. Khóc đi, tức tưởi, vật vã đi hay té xỉu cũng được. Dường như họ chỉ chờ có thế để lao đến ôm lấy tôi, dang rộng vòng tay che chở tôi. Họ chờ có thế để thấy tôi bình thường. Nhưng không, họ thất vọng vì tôi chỉ ngồi im, không khóc, không cười, không có chút sắc thái đau khổ nào biểu hiện trên mặt.

- Sao bây tỉnh bơ vậy hả? Hay bây hết thương nó rồi?

- Thương chứ sao không, má! Nhưng người ta đã vậy...

- Bây phải làm gì đi chứ.

- Làm gì nữa? Thôi bỏ đi mà, má!.

Tại cha tôi không biết nên giờ họ từ hôn cái rụp mới chưng hửng vầy chứ tôi thì đã đoán ra lâu rồi, có gì bất ngờ đâu. Người ta đâu có thích một đứa con dâu làm nhà văn. Má Thà nói từ hồi nảo hồi nào:

- Bây coi, nó là con gái mà bụi bặm, lân la gần bọn nghiện hút, qua lại với phường đĩ điếm “bán phấn buôn hương”. Lăn lóc với lũ bụi “đời đầu đường xó chợ”, cả đám giang hồ nữa, sao đặng?

 

Anh kể với tôi rồi nài nỉ:

- Em bỏ nghề đi! Coi như vì anh.

Đâu có được! Đời tôi đã gắn với văn chương như cái nghiệp. Tôi viết về những mảnh đời bất hạnh để sẻ chia và làm vơi đi nỗi bất hạnh của đời mình. Bất cứ khi nào cuốn mình vào tác phẩm, tôi lại như đang sống một cuộc đời khác, một số phận khác, một kiếp người khác để thiết tha rung động, để khóc cười với nhân vật của mình. Bất cứ ai đó, khi dạo qua trang văn của tôi, có thể sẽ bất giác bắt gặp đời mình, thấy mình ở đây ở đó, ít nhiều sao mà giống, vì tôi viết cho mọi người và cũng là cho chính mình. Làm sao tôi rời bỏ cái nghiệp văn chương, tựa như không thể rời bỏ được cái tên cha mẹ đặt, gắn kết suốt cả đời. Thà cứ nói tôi viết văn là đi mây về gió, là không thực tế, là biết bao giờ mới giàu nổi. Ôi trời, ngộ ghê chưa? Sao anh bỗng trở nên lạ lùng, lạ lẫm... Ừ, xa lạ với tôi thế. Khi nói câu đó, anh không còn là người tôi yêu suốt năm năm ròng nữa rồi. Tôi có phải Tề Thiên Đại Thánh đâu mà đi mây về gió. Tôi vẫn đi bằng đôi chân trên mặt đất này để chứng kiến đầy rẫy những cảnh éo le, ngang trái, những vở bi, hài kich dở khóc dở cười đó thôi. Tôi vẫn là con Văn tóc cột đuôi ngựa, lang thang cùng anh khắp các ngả đường Sài Gòn sưu tầm đủ quán bún canh, bún bò, bún ốc đó thôi. Tôi vẫn là con Văn mê gỏi khô bò, xuýt xoa chén phá lấu nóng hôi hổi và đòi mãi món bánh flan không chán nhưng chúa ghét ăn kem. 

Đâu có như cô gái xõa tóc thướt tha tôi tình cờ thấy anh đi cùng vào quán kem Bạch Đằng hôm trước. Tôi trung thành với quần jean bụi bặm còn anh lúc nào cũng sơ – mi đóng thùng tề chỉnh (bác sĩ mà)... Tôi có thể lê la khắp nơi còn anh thì nhìn đâu cũng thấy vi trùng tựa như cái xã hội này là một con vi trùng lớn lắm (vậy sao anh không nhìn nổi con vi trùng nào đó đang hủy hoại trong từng tế bào rung cảm của chính mình , lạ quá). Văn chương là thực tế đó chứ nhưng nó loại trừ cái khả năng tư duy thực dụng trong anh. Tôi viết về những điều rất thật, chắp vá trăm ngàn nỗi đau rất thật của nhân loại mà hờ hững như anh làm sao thấy được. Tôi là nhà văn chứ có phải nhà kinh tế đâu mà mộng làm giàu. Tôi cũng không phải nhà nghệ thuật để mong nổi danh, nổi tiếng. Cùng lắm tôi chỉ là một nghệ sĩ ngôn từ, dùng ngòi bút chắt lọc cái hồn của nhân loại, vắt kiệt máu tim, đặt trọn tâm tư vào trang viết, cho ra đời những đứa con tinh thần và mong người ta đón nhận nó, để nó xoa dịu người ta. Trong khi tôi lặn ngụp dưới đáy xã hội lầy lội bùn, cầm lấy những bàn tay giơ ra tuyệt vọng thì anh xênh xang ở nhiều nơi đắt tiền, được nhiều người trọng vọng nên làm sao anh nếm nổi cái vị mằn mặn, đắng chát của những chén cơm chan mồ hôi, nước mắt và cả máu biết bao con người ở tận cùng đau khổ, cơ cực. Thế đó, những năm rời quê lên Sài Gòn học, tôi mới thấm thía hết cái xã hội phồn hoa giữ bên cạnh nó là những mặt trái nghiệt ngã đến thế nào. Thà thì luôn được má bao bọc, cưng như trứng mỏng (ai biểu làm con trai một) nên anh thấy vợ sắp cưới của mình sao mà thô ráp, lởm chởm, sần sùi vậy. Rồi anh chợt thèm cái gì nõn nà hơn. Kể gì hứa hôn, cưới rồi còn bỏ được nữa chứ là...

Phụ nữ 8 Đời văn 3

Anh Hai tôi hôm nay không ra nhà máy chà lúa như mọi khi (chẳng biết vì nhà có hữu sự hay làm chán rồi nên ổng tự cho mình nghỉ phép một bữa). Cơm tối dọn ra, cả nhà quây quần cầm chén, cầm đũa nhưng dường như chẳng ai buồn ăn. Cha tôi đăm chiêu, uể oải lùa vài miếng còn má thì cứ than vắn thở dài, trệu trạo nhai cho có lệ. Ông anh Hai vốn ít lời cứ cặm cụi ăn chăm chỉ (nhìn giống cái máy xay hơn là người ta đang thưởng thức bữa cơm canh sốt dẻo). Chỉ có tôi vừa gắp vừa khen ngon vừa kể đủ chuyện trên trời dưới đất, cả chuyện tiếu lâm luôn nữa nhưng hình như họ không quan tâm gì mấy mà điều họ thắc mắc là sao tôi cứ thản nhiên, bình chân như vại thế không biết. Tôi cũng không biết. Đêm đó, má chỉ có vỏn vẹn một câu:

- Tối nay ngủ với má nghen Văn! Thì ngủ, cũng lâu rồi không được nằm gần má. Chắc bà già sợ tôi đau khổ quá sẽ nghĩ quẩn chứ gì. Thiệt tình! Nằm cạnh má trong tình thương ấm áp mà tôi cứ đau đáu nhớ về nơi góc tối nào đó của cuộc đời, có thằng cu Đen, cu Bụi mồ côi đang cong queo vì lạnh. Có lần, tụi nó than:

- Em thèm má quá, chị Văn ơi!

Thiệt đứt ruột. Chuyện thằng cu Đen, nhà nó nghèo lắm, ở tận miền ngoài. Cha nó đi làm cái việc vuốt râu tử thần để nuôi gần chục miệng ăn. Má nó bị chứng nhức đầu kinh niên hành hạ hơn mười mấy năm nay, sức đâu mà làm lụng thành thử bấm bụng để chồng đi dò mìn, cưa bom, cưa đạn. Oan nghiệt thay, trăm lần thoát cũng có lần dính. Sáng đó, trước khi đi, ba nó bảo:

- Tui làm chuyến này nữa là nghỉ. Về xoay việc khác chứ coi bộ không kham bà ạ! Ông Năm, bác Chính bị bom nổ tuần trước, người đi đứt, người tàn phế, thấy mà sợ. Bà ở nhà ráng lo cho tụi nhỏ, chiều tôi đem gạo về. Ai ngờ lần đó cũng là lần cuối cùng nó nhìn thấy cha, ông đã ra đi vĩnh viễn. Nó nhớ như in cái khoảng hai, ba giờ trưa, tiếng nổ long trời làm  đất rúng động, căn nhà tôn cũ kỹ run như cầy sấy, lắc lư cọt kẹt. Khi má con nó dắt díu, dìu nhau chạy tới nơi phát ra tiếng nổ đã thấy hoang tàn khói lửa, mùi thuốc nổ khét lẹt bầu không khí. Trái bom khoét một lỗ sâu hoắm trên mặt đất. Chẳng thấy cha nó đâu, chỉ còn sót lại mảnh áo quen thuộc bị cháy sém, nằm vắt vẻo trên cành cây. Má nó đau khổ phát điên, bỏ đi lang thang đâu không biết. Anh em nó tản lạc tứ tán, mỗi đứa một nơi. Nó lây lất đi tìm má, vào đến tận Sài Gòn rồi bỗng bị người ta đặt cho cái tên “thằng bụi đời”. Những đêm nằm co ro ngoài hiên nhà ai đó, nó chợt mơ về một mái ấm gia đình rồi thèm phát khóc. Hay chuyện của thằng Đinh Long, dân Sài Gòn chánh gốc, cũng thảm chẳng kém. Nó chán đời, thù đời, sống bất cần tất cả, chỉ trừ nàng tiên nâu. Khác với thằng Đen, nhà nó giàu lắm, danh vọng lắm, tiếng tăm lắm, tiền bạc thừa thải, dư giả lắm nhưng thiếu tình thương. Ai lo việc người nấy, sống cho riêng mình còn chưa đủ thời gian huống chi là quan tâm nhau. Bữa trước nó nhìn chiếc nhẫn đính hôn trên tay tôi rồi bĩu môi, lắc đầu ngán ngẩm:

- Bà coi chừng đó! Mấy thằng cha tặng nhẫn kim cương đều là cả lũ đàn ông bội bạc. Ai bảo giá trị vật chất nói lên tình yêu? Ông già tui đó, tháng nào mà chẳng đem về cho bà má kim cương. Hột nào hột nấy chọi lỗ đầu chó chứ thường sao. Vậy mà đùng một cái, ổng bỏ đi, đi mãi không thấy về. Bà má cũng vừa gì, bả phủi đít, có bồ cái rẹt, quên luôn trên đời còn thằng con bất hạnh như tui... Tiền sẵn, xe cộ, cửa nhà sẵn và sẵn luôn sự cay cú, nó lao vào những đêm ăn chơi, thác loạn cho quên đời rồi trượt dài từ đó, không đứng lên nổi nữa. Nó nghiện. Phải mà, có ai đưa tay nâng đỡ cuộc đời sa đọa của nó đâu. Nó chán chường thở dài:

- Về nhà làm gì? Lạnh hơn chùa bà đanh. Tối tối, bà má đưa nhân tình về, say khướt, trửng giỡn, nói cười càng thêm chướng mắt. Bả bảo tại thằng cha mày ở bạc. Rồi như chợt nhớ điều gì, nó khều tôi:

- Nè, bà đừng có viết chuyện tôi lên báo à nghen! Ông bà già tui địa vị, chức quyền, sang trọng lắm. Ổng bả sợ mất mấy thứ đó chứ còn đứa con như tui thì mất trăm thằng ổng bả cũng chẳng ngó ngàng gì đâu.

Tôi cười:

- Chị là nhà văn chứ có phải phóng viên đâu mà lo Long ơi!

Vậy đó, mỗi người mỗi cảnh chẳng ai giống ai, không nỗi khổ nào khoác lên cùng một bộ mặt với nhau cả mà sao vẫn khiến những nạn nhân của nó quằn quại đau. Tôi xót xa nghe từng mảnh linh hồn rên siết trong câm lặng. Họ khô khốc, trải đời chẳng qua vì phải sống lăn lóc, vật lộn với cuộc đời. Khi đối diện với cuộc mưu sinh khắc nghiệt, người tha hóa, kẻ bạo tàn làm biến chất những gì vốn dĩ tốt đẹp. Ừ, mà thằng Đinh Long nhận xét cũng đúng chứ bộ. Chiếc nhẫn đính hôn Thà tặng tôi còn nằm sờ sờ ở đây, trên ngón áp út này. Tôi xoay xoay nó, thấy như mình đang xoay cả số phận, đảo lộn hết rồi. Nhẫn hột xoàn hẳn hoi chứ chơi sao. Tự nhiên tôi thèm được khóc, thèm quá mà chẳng rơi tí nước mắt nào (kỳ vậy ta, tôi đang thất tình kia mà). À, nói thất tình tôi lại bất chợt nhớ tới Dạ Hương, con nhỏ chưa bao giờ biết thất tình là gì.

- Người ta có thì mới mất. Còn tui đã khi nào có tình đâu mà gọi là thất tình.

Nó cười như mếu. Con nhỏ này cũng qua hết ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh dù năm nay nó mới tròn hai mươi tuổi. Má nó bỏ nhà theo trai hồi nó vừa được năm, sáu tuổi gì đó. Cha nó ở vậy, không lấy vợ nữa, chẳng phải vì thương chị em nó. “chỉ tại ổng hận đàn bả” nó kể. Rồi cha nó sinh tật rượu chè bê tha. Suốt ngày chỉ biết nhậu nhẹt, chưa kịp tỉnh cơn say này đã ngã vùi vào cơn say khác. Cứ thế triền miên, u ám. Xui xẻo cho con nhỏ, nó giống má nó như khuôn từ dáng vẻ, gương mặt đến giọng nói, càng lớn càng giống hơn. Cha nó ghét ôi chao là ghét cái người đàn bà hủy hoại cuộc đời ông. Mà khi say thì ai còn phân biệt được giữa hư và thực, đúng và sai, phải và quấy. Thế là bao nhiêu uất ức, căm giận cha nó trút cả lên nó bằng những trận đòn thừa chết thiếu sống. Ông rít lên trong cơn say:

- Đồ khốn nạn, đồ đàn bà hư, đồ lẳng lơ, đồ mất nết, lăng loàn, cho mày chết, mày chết.

Con nhỏ tội nghiệp co rúm người, khóc không thành tiếng. Còn cha nó có bao giờ kịp tỉnh để nhìn thấy những lằn roi ngang dọc, tím bầm trên người đứa con gái vô tội mà hồi nào ông rất đỗi thương yêu, quý hơn ngọc hơn vàng đâu. Nó chịu không nổi, bỏ trốn, trôi dạt vào Sài Gòn, làm tiếp viên cho một quán bia ở xa cảng miền Tây. Không nghề nghiệp, không vốn liếng, không bằng cấp, nó đâu có sự lựa chọn nào khác ngoài dùng cái vốn trời cho để nuôi sống bản thân. Ai cho nó cái quyền được sống thanh cao hơn khi bọn chủ chứa đưa nó vô tròng lúc con nhỏ mới chân ướt, chân ráo vào đất Sài thành. Nó bị lừa, lừa trắng trợn nhưng biết lấy ai bênh vực bây giờ. Nó chẳng còn nơi nương tựa nào ngoài cái nhan sắc của chính mình. Như một loài hương đêm, tên nó đã đồng lõa với bóng tối để mãi mãi không thấy được ánh mặt trời. Nó lầm lì lầm lũi trong những tháng ngày lận đận long đong vô vọng. Nó chưa kịp yêu một ai trong số đàn ông thoáng qua đời nó, chẳng để lại gì ngoài mớ tiền công nhục nhã và ấn tượng ê chề của những lần thân xác bị dày vò đến rời rã. Bẽ bàng biết mấy! Một lần hiếm hoi, tôi thấy nó khóc:

- Tui bị HIV rồi, chị ơi! Tui sắp chết phải hôn? Tui mới có hai mươi tuổi, tui còn trẻ quá. Nhưng rồi chợt nghĩ đến điều gì đó, nó quệt nước mắt, cười thật chua chát:

- Mà thôi, còn cái gì để tiếc. Chết là hết, mà đời tui thì đã hết lâu rồi, sống có khác nào chết đâu. Cũng giống nhau, giống cả...

Thực tế sao phũ phàng quá. Tôi lặng im nhìn nó, nghe nhức nhối một nỗi đau chung. Đời như mảnh vườn chờ gieo mầm, nếu chúng ta ươm vào đó những hạt giống yêu thương, tốt lành thì sẽ nhận về những mùa bội thu. Còn nếu chỉ rải ra những hạt giống của hận thù, gai góc thì chắc mùa gặt sẽ nặng nề, đau đớn biết bao. Nhưng có mấy ai quan tâm tới cái điều giản đơn này kia chứ. Tôi đi vào giấc ngủ ngổn ngang niềm trăn trở, không phải cho riêng mình.

Lại sáng, lại một ngày mới bắt đầu trong bề bộn bao nhiêu là thứ, mà lạ chưa, sao tôi lại còn nằm vậy cà? Tôi xuống bếp đa thấy má lục đục chén tô:

- Ăn sáng nè Văn! Ngủ ngon hôn con?

- Dạ được má à.

Nắng sớm chiếu xuyên qua kẽ lá, xuyên qua tấm vách ngăn đan bằng tre chẽ, rớt xuống thành những hình kẻ ca – rô màu nắng in trên nền đất, coi vui mắt. Nghĩ hay hay , nắng chỉ là nắng, vậy mà khi qua chỗ lủng đinh trên mái tôn dội xuống đất thành quả trứng gà, ủa trứng gà bằng nắng, khi qua khe cửa, lại là con dao nắng bén ngót hay thanh gỗ nắng vuông vuông, đủ thứ hình thù, tùy vào từng chỗ nắng đi qua mà nắng biến đổi thế này thế khác. Phải chăng con người cũng vậy. Tôi thấy lòng nhẹ tênh:

- Thôi, con đi nghen cha má!

- Bây đi đâu?

- Con xuống Vĩnh Long một chuyến.

- Chi vậy con?

- Con phải gặp Thà lần nữa để giải quyết cho xong.

- Đừng làm bậy nghen Văn! Hay đi với anh Hai bây...

- Không! Con đi một mình được mà. Cha má không tin con sao?

Rồi tôi đi, cũng về tới quê Thà. Từ xa đa thấy ngõ nhà anh nhộn nhịp coi bộ vui. Người dựng rạp, kẻ che bạt, dọn bàn. Chiếc cổng cưới kết bằng là dừa uốn cong, vắt vẻo những chùm hoa tigon hồng, hoa hình tim vỡ. Thấy tôi, ai cũng ái ngại nhìn rồi họ khều nhau, xầm xì to nhỏ. Cô gái hôm nọ tôi bắt gặp đi cùng Thà vào quán kem bước ra, lạnh giọng:

- Tôi là vợ sắp cưới của anh Thà. Chị cần gì?

Ô, té ra người ta muốn khẳng đi với tôi rằng cô dâu không phải là tôi. Tôi biết rồi, biết lâu rồi mà. Cô gái kia cứ làm như tôi đến cướp mất chồng cô đi vậy. Trời ơi, sao mắc cười quá vầy nè.

- Ủa, Văn... mới xuống hả?

Thà hỏi đầy vẻ kinh ngạc (chắc anh nhớ là đâu có mời tôi đi đám cưới hồi nào đâu).

- Tôi xuống gặp anh để trả cái này.

Chiếc nhẫn tuột khỏi tay tôi, nhẹ như không, tựa một giấc mơ hư ảo. Thà tái mặt lắp bắp:

- Để chi?

Dường như anh chỉ hỏi cho có hỏi chứ chẳng biết mình đang nói gì. Ừ, anh cũng đâu biết phải nói cáu gì mà cần chi phải nói thêm nữa. Tôi cười:

- Anh cưới vợ rồi lên sống ở Sài Gòn luôn hả?

- Ừ...à... phải. (Sao Thà cứ ấp a ấp úng vậy chứ? Anh ăn nói lưu loát lắm mà, xưa nay vẫn thế mà)

- Chúc anh hạnh phúc!

Nói rồi, tôi quay lưng đi. Tôi phải về với văn, về với chính mình và những số phận trong trang viết của mình. Tác phẩm là đời. Đời là tác phẩm. Những con người tôi đã gặp, họ sống ngoắc ngoải trong  hận thù. Họ sống để trả thù, họ muốn trả thù. Nhưng trả thù ai? Trả thù đời hay tự trả thù chính mình? Tôi không chỉ thuộc về riêng tôi nên không thể là của riêng một ai. Trong tôi, thấp thoáng ẩn hiện những kiếp người vì tôi đang đối thoại với cuộc đời, đối diện với nỗi đau đồng loại và đương đầu cùng nỗi đau riêng mình. Có thể vượt qua, có khi vấp ngã nhưng đời Văn không dừng ở đó cho đến bao giờ mà người ta còn cần. Có lẽ đời văn là vậy, đơn giản là vậy, bình thường thôi vì đời tôi là đời của mọi người.

 TUẤN NGỌC DU 

Tin mới trong ngày