phunu8_news_0.png

Ví dầu tình bậu muốn thôi

Câu hát nghe bùi ngùi của người đàn bà bước qua tuổi bốn mươi cứ rơi từng giọt vào không gian rồi tan ra bẽ bàng, mất hút. Dì Hai Hận tóc lấm tấm bạc quẩy trên vai túi hành lý gọn lỏn vài bộ đồ cũ mèm, ôm theo con khỉ để khi buồn dì gọi Bột ơi Bột à cho đỡ trống trải. Chỉ có vậy, người đàn bà lang thang khắp mọi nẻo đường từ làng mạc đến thôn xóm như người đi đào vàng mà không biết vàng ở đâu. Đời dì bây giờ còn có gì đáng giá ngoài con Bột và đám quần áo nhăn nhúm, đứa sờn vai, đứa rách gấu kia đâu. Đi tới chỗ nào, dì cũng nán lại ít lâu, cũng tìm kiếm tận tình, cũng hỏi thăm hết nước hết cái rồi lại ngậm ngùi hát câu “Ví dầu tình bậu muốn thôi. Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra…”. Và dì rời chỗ đó, đến nơi khác.

Phụ Nữ 8 Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi 2

Cứ thế, gần hai mươi năm, dì sống kiếp cô lữ độc hành, nếm trải hết mùi vị chua cay, chát đắng, làm đủ mọi việc cơ cực có, hèn hạ có. Ừ, đủ cả, chỉ thiếu cái hương vị hạnh phúc, sung sướng mà đối với dì là một thứ xa xỉ phẩm ngoài tầm tay với dù có thèm chảy nước miếng. Hồi đó, dì Hai Nguyễn Thị Hậu sinh ra ở Cà Mau trong cảnh thiếu trước hụt sau. Là chị của cả đàn em chín đứa mà đứa nào cũng nhiều sởi, nhiều ban, dì Hai phải lo toan, cáng đáng đến mệt nhừ từ việc đồng áng đến cơm nước, giặt giũ. Má dì mất sớm nên dì gánh trên đôi vai gầy rạc mọi nỗi cơ cực, nhọc nhằn. Dì Hai Hậu không đẹp (đẹp sao được khi cứ phải dãi nắng dầm mưa, băng đồng lội ruộng). Rồi dì cũng lớn lên như bao cô gái khác. Mười tám tuổi, tía dì gả cho một chàng trai thương hồ. Ông già chép miệng “Bây lấy chồng cho đỡ cực. Làm ruộng cả đời không khá. Thôi thì thử buôn bán coi sao”. Thế là dì khăn gói theo chồng sống đời ngược xuôi sông nước trên chiếc ghe bé tẻo tèo teo. Mà cũng chẳng khá, chui ra chui vô cái ghe ọp ẹp chỉ đủ bữa qua ngày, đến khi đứa con gái đầu lòng ra đời, cảnh sống càng chật vật hơn. Thấy vậy, dì bàn với chồng

- Mình coi tính lại thử. Tui thấy sống vầy hoài không được đâu. Hay mình cất cho mẹ con tui cái nhà nhỏ trên bờ, chỗ đất má mình để lại hồi đó. Tui trồng trọt, chăm lo vườn tược để sau này lớn lên, con cái mình được đi học đàng hoàng chứ chẳng lẽ cũng bắt đời tụi nó tối tăm, mù mịt như tui với mình vầy sao?

Chồng dì trầm ngâm rồi gật. Cái nhà lá đơn sơ mọc lên bên dòng kinh nhỏ. Ngày ngày, dì Hai Hậu tất tả con cái, vườn tược. Đầu tháng tiễn chồng xuống ghe, cuối tháng đón chồng rong ruổi trở về rồi vài ngày lại đưa. Đứa con thứ hai chào đời, những chuyến thăm nhà của chồng dì một thưa thớt hơn, có khi đến vài ba tháng không tin tức gì. Nhưng dì Hai vẫn nhẫn nại tin tưởng chồng như đứa trẻ tin là kẹo có vị ngọt. Lúc đó, vợ chồng dì tích góp được số vốn kha khá. Dì mua vàng để dành, tính là sau này cho hai đứa con để tụi nó làm kế sinh nhai. Nhưng đời lắm chỗ gập ghềnh. Cuộc sống không suôn sẻ như dì mong muốn. Khi dì đầu tắt mặt tối làm lụng vì cái gia đình nhỏ của mình thì chồng dì đã âm thầm phụ bạc. Gã nhẫn tâm bỏ rơi dì như người ta bỏ đôi dép nhựa mòn lẵng hay cái bàn chải cùn, thản nhiên, tàn nhẫn.

Đêm ấy, gã chồng bội bạc trở về sau mấy tháng dài biệt tăm. Thằng con trai nhỏ đã bệnh hơn tuần đang khóc tru tréo. Chồng dì không cờ bạc, không nhậu nhẹt lè nhè bê tha nhưng mặt gã lạnh ngắt, vô cảm. Rồi thằng con cũng bỏ dì mà đi. Nó bị sốt xuất huyết. Trong khi dì vật vã, đau đớn vì mất con thì mặt gã đanh lại  một mưu toan hèn hạ. Gã đổ lỗi cho dì không chăm lo con cái chu đáo. Nó chết là tại dì. Rồi thì gã gom hết mớ tài sản cỏn con cuối cùng dì dành dụm, ôm cả đứa con gái bốn tuổi khóc ngằn ngặt đòi mẹ, gã ra đi. Bỗng chốc đời dì bị trả về con số không trống lõng. Dì ngỡ ngàng rồi gào thét như điên dại.

Ít lâu sau, dì dò hỏi mới biết ra gã chồng khốn nạn đã theo một mụ buôn lái nào đó hơn năm nay. Tất cả chỉ là cái cớ để hắn rũ bỏ và cướp bóc chính vợ mình. Dì Hai nghiến răng, không khóc. Dì hận! Dì quyết phải tìm cho ra gã chồng nhẫn tâm để đòi lại bé Na. Nó là những gì còn lại, là hy vọng cuối cùng của đời dì. Phải rồi, dì sẽ moi móc tận hang cùng ngõ cụt để dành con về. Dì bán hết vườn tược, khăn gói bước vào chuyến hành trình tưởng chừng bất tận. Gần hai mươi năm, dì lang thang khắp nơi mà gã chồng cứ lặn sâu, lặn xa. Dì không từ một công việc nặng nhọc nào miễn là kiếm được tiền. Dì cày thuê cuốc mướn, làm công cho người ta, ai kêu gì làm nấy đến chai sần cả đôi bàn tay. Gương mặt vốn đã rám nắng càng sạm lại vì cơ cực. Dáng người khắc khổ càng khắc khổ hơn, duy chỉ có tiếng hát ầu ơ ngày nào là vẫn không thay đổi, vẫn gay gắt buồn, chua chát căm giận. Từ đó, ai hỏi tên, dì cũng đều trả lời là Hận. Riết rồi dì quên mất cái tên Nguyễn Thị Hậu đằm thắm tía má đặt hồi nào không biết. Trong một lần, dì gặt mướn cho nhà Bảy Beo xóm Rạch nổi tiếng ruộng đất bay mỏi cánh cò cánh vạc, tên chủ điền cứ hau háu nhìn dì như cú vọ rình mồi. Điều gì đến rồi cũng đến. Đêm đó trời tối thủi tối thui, hắn mò vào căn chòi ngoài đồng, cưỡng bức dì Hai. Sức lực của người đàn bà năm nắng mười mưa không chống chọi nổi với gã đàn ông hùng hục, đang lồng lộn cơn khát tình như con trâu điên. Khi hắn đổ ập lên người dì, dì chỉ thấy cảm giác nhờn nhợn kinh tởm chảy trong từng mạch máu, lan khắp cơ thể. Gã Bảy Beo thở hồng hộc, mắt đỏ ngầu, miệng mồm nhớp nhúa ngồm ngoàm cái thân xác tội nghiệp của dì. Không đợi dì nguôi cơn đau hoảng hốt, mụ vợ ôn thần ở đâu xồng xộc xô vào, giãy đong đỏng. Rồi thì mụ chửi, mụ đánh, mụ cấu xé. Dì Hai chỉ biết kêu trời. Mụ nắm tóc dì, vừa lôi xềnh xệch, vừa la làng vừa la xóm. Sau trận đòn ghen ấy, dì Hai nhừ tử như tương. Nhưng dì cũng bình phục rồi trở nên vô cảm, chai lì và căm hận hơn trước. Dì lại đi, lại tìm, lại hát ầu ơ nghe ai oán, não nề. Dì cũng tiếp tục xoay sở đủ nghề nhưng lần này trong danh mục việc làm dì có thêm cái nghề không biết có được gọi là nghề không: làm đĩ.

Lần nọ, dì thấy người ta bắn chết một con khỉ, trong tay nó vẫn còn ôm chặt đứa con, thấy mà thương. Dì ẵm theo, nuôi nó và đặt tên là Bột (vì trông nó dàu dàu, thờ thẫn, hiền như bột). Con Bột dầm dãi nắng mưa lớn lên theo những cơ cực, cay đắng của đời dì. Có nó sáng tối hủ hỉ, dì cũng nguôi ngoai bớt chuỗi ngày uất nghẹn đằng đẵng trôi. Thế đó, dì đi mải miết rồi trôi dạt tới vùng Rạch Giá này, đổ bệnh nằm liệt giường liệt chiếu. Mà không, chẳng có giường chiếu gì cả dì quỵ ngã ngoài bụi chuối trên con đường đất lầy lội. Khi tỉnh lại đã thấy mình nằm trong căn chòi lụp xụp của một ai đó nghèo không kém. Con Bột đang loay hoay bên cạnh như muốn nói: “Mèn đéc ơi, khi khổng khi không lại bệnh, đừng có nằm xuống bỏ tui à nha!” “ Là loài vật nhưng mắt nó thiệt có tình chứ đâu phải như ai kia vong phụ ngay cả cái nghĩa chăn chiếu vợ chồng để đời con Hai này giờ ra nỗi thân sơ thất sở vầy đây”. Dì xoa xoa, vỗ vỗ cái đầu con con, tròn láng của nó, thở dài thườn thượt, buồn. “Ủa, tỉnh rồi hả dì?” Dì Hai giật mình chưa kịp trả lời thì cô gái nhỏ nhắn trạc mười chín đôi mươi gì đó đã tiếp: “Mấy bữa trước thấy dì té ngoài đầu ngõ, chẳng có thân nhân gì, tui đem về. Dì ở đâu? Đi đâu để ra nông nỗi vầy nè?” Dì Hai chép miệng:

- Chết cả, mất cả. Người chết cũng chết rồi người sống tìm hoài hổng thấy.

- Mèn ơi, vậy ra là giống tui rồi. Tui cũng ở có một mình. Thôi thì dì cứ nán lại ít lâu, chờ khỏe rồi tính. Ừ, nếu dì không ngại…

- Ngại gì?

- Tui mồ côi, gọi là gái giang hồ cũng được.

Chà chà, miệng mồm này cũng tép lặn tép lội lắm đây.  “Nhưng có còn gì mà Hai Hận này chưa qua”. Dì nghĩ. Con nhỏ bước xuống nhà dưới. Dì Hai đảo mắt quanh căn chòi xềnh xoàng, trống quơ trống quất, chẳng có thứ gì giá trị quá năm xu ba đồng. “Kể ra đời đâu phải chỉ có mình nghèo, hen Bột!” Chẳng biết con Bột có hiểu không mà nó nhảy chồm chồm mừng quýnh. “Kệ, cũng tạm che nắng che mưa”. Con nhỏ đi lên tay bưng to gì nghi ngút khói, thơm lừng.

- Dì ăn cháo gừng này cho khỏe. Chắc trúng mưa trúng nắng gì đó, cảm rồi. Tui cũng bị hoài chứ gì. Ôi chao, nghe mùi cháo gừng mới ấm làm sao. Dì Hai bỗng liên tưởng tô cháo hành Thị Nở cho Chí Phèo trong câu chuyện dì nghe thằng em kể hồi đó (chứ dì có được học qua lớp bốn đâu). Cũng đã lâu lắm rồi, lâu không biết chừng bao nhiêu lâu, dì có được ai chăm sóc thế này. Cái hạnh phúc giản đơn ấy chỉ lẹt đẹt đến trong mơ rồi đỏng đảnh kéo nhau đi mất hút. Giá như tìm được đứa con gái, nhỏ Na mà bưng cháo cho dì vầy thì sướng biết mấy. Dì thấy khóe mắt mình ươn ướt, không biết là mừng hay tủi. Con Bột hếch hếch cái mũi, kêu ca “éc, éc… tui cũng đói rã ruột sao chưa ai cho ăn vậy cà?”. Dì húp miếng cháo gừng rồi ngậm đó, không vội nuốt để từ từ nhấm nháp cái vị đậm đà khó kiếm, giờ lại đến bất ngờ ấy. Mà cũng lạ, dì đâu phải thằng Chí Phèo lưu manh, con nhỏ cũng bỏ xa Thị Nở về cái khoản nhan sắc, vậy mà dì Hai thấy cái cảm giác lâng lâng này sao cũng gống nhau thế nào ấy, chỉ khác là không phải tình trai gái nhưng sao dì vẫn nghe thân, nghe thương lạ. Con nhỏ ngồi nhìn dì rồi bỗng thấy như mình vừa làm được một việc tầm cỡ “vĩ mô”. trọng đại gì lắm lắm. Cũng phải mà, đời con Thu Sương này chỉ quẩn quanh, chết dí trong những chuyện vặt vãnh, xấu nhiều hơn tốt, rồi nghe người đời chửi, rồi chửi lộn với người đời cho qua ngày đoạn tháng. Hôm nay, tự nhiên nó thấy mình quan trọng hẳn lên. Ừ, đúng! Trong mắt dì Hai, nó như bà tiên, ông bụt cổ tích (mà sao người lớn vẫn mê truyện cổ tích, ngộ vậy ta?). Nghe dì Hai nói “cảm ơn”, con nhỏ thấy sướng rơn lên. Nó hỉnh mũi lấy thêm ít cơm nguội đem cho con Bột. Đó, nó lại vừa làm thêm được một việc tốt nữa còn gì. Ai dám bảo con Thu Sương, ừ, con “Thu Sương gió” này chỉ toàn làm những chuyện xấu xa, cả đời không biết chữ tốt viết làm sao. Dì Hai cứ ở lại đó với con Sương. Người ta cũng dòm ngó đôi chút nhưng không ai thèm (hay không dám) bàn ra tán vào gì nhiều vì xóm này chẳng ai muốn đụng tới cái con “bán thân nuôi miệng” đó làm gì (chỉ trừ mấy bà có chồng mê chơi bời, lân la chỗ nó). Con Sương kể về đời nó, nghe mà thê thảm, não nề. Khi dì Hai hỏi “Tía bây đâu?”, nó đáp gọn lỏn “Chết”. “Sao hổng thấy bây thờ?”. “Thờ cái con khỉ gió”. Con Bột khọt khẹt lên tiếng như phản đối “Ê, đụng chạm à nghen!”. Phải rồi, cần gì phải thờ cái người bạc ác đã bán nó có ba cắc ba hào vì nghe lời con mụ vợ sau. Từ lúc sống với dì ghẻ, không ngày nào là nó không bị đòn. Tía nó thì ơ hờ tựa nó không phải con đẻ vậy. Cũng đúng, chỉ có má nó mang nặng đẻ đâu chứ với tía nó thì nghĩa lý gì. Chỉ cần con đàn bà kia ỏn ẻn hay quầy quả đòi bỏ đi là tía nó lại lôi nó ra đánh. Nghe đâu năm rồi con đàn bà gom hết tiền bạc tư trang trốn mất. Mụ theo một thằng cha thương lái nào đó. Tía nó ức quá, đổ bệnh rồi đi chầu ông bà. Nó cũng chẳng buồn ngó, chẳng buồn tang tóc. Dì Hai nhìn nó, thấy thương quá. Giá như lúc kể tới đó, nó bật khóc, chắc dì đã ôm nó vào lòng vỗ về như vỗ con bé Na một ngày xưa lắm, xa lắm. Thế nhưng mắt nó ráo hoảnh, mặt lạnh đanh lại, ôi chao là giống cái gã chồng trời đánh thánh đâm của dì. Dì Hai chưng hửng rồi thấy sao mà ghét thế.

Một bữa nọ, dì Hai đặt lờ về, vừa bước vô đã thấy con Sương ngồi thu lu trong góc, mặt mày ủ dột, lòe loẹt phấn son nhưng tím bầm, quần áo tơi tả, bèo nhèo hơn cái nùi giẻ. Dì trợn mắt:

      - Mày sao vậy? Sao vậy Suơng?

Nó đáp cụt lủn:

      - Đánh ghen! Sởn tóc, lột đồ.

      - Trời, có sao hôn?

      - Nhằm nhò gì.

Nó thản nhiên:

      - Riết rồi quen.

      - Đâu tao coi.

Mặt nó lừ lừ vô cảm như đang đeo cái mặt nạ xám xịt, dày lắm, nặng lắm.

      - Bõ bèn gì? Ăn nằm với chồng người ta lấy tiền, người ta đánh đánh vài đòn . Chửi chửi vài câu có sao. Mấy bữa hết chứ gì.

Nó chua chát. Dì Hai mím môi. Ừ, cái nghề này là vậy (gọi nghề cho nó oai cái mà), nhục nhã, ê chề ngàn nỗi chứ chẳng chơi. Mà cánh đàn ông quê mùa này, kẻ cày thuê, người cuốc mướn, nghèo như nhau. Những người đàn bà kia không chỉ chịu cái khoản chồng ruồng rẫy mà còn phải chia xẻ miếng cơm manh áo cả nhà vào cuộc chơi trác táng đó. Ai không ức. Nên hồi đó đôi khi bị đánh đau quá nhưng dì Hai cũng cố chịu, cắn chặt răng mà chịu “Đời đàn bà, người ta cũng khổ như mình. Ai gây ra? Chồng họ ư? Có phần mình tiếp tay nữa, lãnh đòn ghen cũng đáng”.

Con Bột nhảy khỏi lòng dì , thò lõ mắt dòm rồi ngơ ngác (mèn ơi, sao bữa nay bà chằn Sương này xấu quắc vậy cà?). Con Sương kéo Bột lại, vân vê mấy ngón tay nó, cười cười (mà hình như chỉ là cái nhếch mép chẳng cảm xúc).

      - Làm khỉ như nó coi bộ sướng. Kiếp người sao khổ quá hen, dì?

Con Bột ưỡn ngực như tự hào “Thiệt hôn đó?”. Chắc nó thấy làm người sao cũng phức tạp (cứ nhìn đời hai bà này thì biết chứ gì, lắm bọt bèo, gian truân), thà làm khỉ sướng hơn. Dì Hai thở dài, không nói. Con Sương xoa xoa vai trái:

      - Tui ước gì cũng có bớt son bằng cái trứng cút ở đây để được gọi dì một tiếng “má”. Ừ, cho hết là đứa mồ côi.

Mắt dì Hai rơm rớm. Dì cũng thương nó vậy. Nhiều lúc biết cái chuyện nó làm thì phải làm nhưng cứ mỗi lần thấy mấy gã đàn ông vồ vập nhìn xuống làn da trắng hêu hếu dưới cổ áo nó là dì lại thấy điên tiết, xót xa, đau như dần. Thương thì thương, dì phải đi tìm con, sao ở mãi với nó được. Ngoài trời tối hù, mưa vẫn dầm dề rỉ rả đến não nuộc. Trong căn chòi, ánh sáng tù mù của cây đèn dầu in hắt lên vách lá. Hai cái bóng đàn bà một già, một trẻ. À quên, còn con Bột nữa. Không nói thêm lời nào, chờ đêm qua. Biết đến bao giờ trời mới sáng… Rồi cũng đến một ngày, dì Hai phải đi, đi để tiếp tục mò kim giữa đáy biển người. Con Sương thẫn thờ rồi rất nhanh (không biết được mấy giây) mặt nó trả về cái lạnh nhạt, hờ hững thường ngày.

      - Mai tao đi rồi.

      - Vậy hả?

      - Tao để con Bột lại cho mày.

      - Chi?

      - Tao già rồi, dầm mưa dãi nắng theo tao bao lâu nay, tội nó. Với lại đang khỏe re, cơn bệnh vừa rồi ập tới báo hiệu sự suy sụp đã bắt đầu. Mày nuôi nó dùm tao. Tội nghiệp, nó mồ côi.

Hai tiếng “mồ côi” rơi ra nghèn nghẹn. Con Sương đang ngậm miếng cá chiên sả mà nghe cay xé miệng. Vậy đây là bữa cơm tiễn dì Hai rồi, biết bao giờ mới gặp. Nó thấy buồn như con mất má.

      - Mai mốt có dịp, tao về thăm.

      - Thiệt à nghen!

      - Ừ!

Hôm sau, dì Hai lẳng lặng đi, không cho con Sương hay. Trưa, nó về đã thấy nhà vắng ngắt. Thôi, vậy cho đỡ buồn. Biết đâu chừng tiễn dì, nó sẽ vụng về làm rớt mấy giọt nước mắt giữ chặt trong lòng bấy lâu thì sao (đã bao năm nó giấu giỏi lắm, có ai thấy nó khóc khi nào) Sương đưa cho con Bột trái chuối, nó ngơ ngác cầm, chẳng buồn ăn. Chắc nó nhớ dì Hai đây mà. Coi vậy mà con Bột này có tình lắm. Sương ôm nó vào lòng xoa xoa lẩm bẩm “Kệ, vậy là tốt cho dì Hai. Dì lại ra đi, lại tìm kiếm, biết đâu hy vọng sẽ làm dì sống lâu hơn, sống thanh thản hơn và vẫn còn hy vọng đến cuối cùng về đứa con gái, con bé Na”. Sương nhớ có lần dì buộc miệng nó (lúc nó muốn ngả vào vòng tay dì để những ngón tay thô ráp, sần sùi vuốt nhẹ lên tóc nó).

      - Tao thương con Na lắm. Không biết bây giờ con tao sướng khổ thế nào. Nó là hy vọng cuối cùng của đời tao. Nếu nó cũng lận đận đến nông nỗi như mày , chắc là tao đau khổ chết mất. Ừ, chắc không sống nổi nữa Sương ơi!

Con Sương khựng lại, lòng nó như thủy tinh rơi xuống gạch đá vỡ thành trăm ngàn mảnh nhọn hoắt nhưng mặt nó vẫn thản nhiên (hay cố gắng lắm để giả bộ thản nhiên). Đúng rồi, nó làm vậy là đúng, dì Hai khổ nhiều rồi, phải cho dì ở trong niềm hy vọng cuối cùng ấy để mà tiếp tục sống chứ. Nó bất lực, giữ chặt trên môi tiếng “Má” không cho bật ra. Đời nó là thế và sẽ là thế. Bọn đàn ông lại tìm đến mua vui rồi hớn hở kháo nhau rằng, ở làng X, xóm Y, nhà Z nào đó, có con Thu Sương gió mướt phải biết, đã phải biết với cái bớt son đỏ như máu bên vai trái.

Tuấn Ngọc Du

Tin mới trong ngày