phunu8_news_0.png  banner.jpg

Thụy mộng ký sự - Cung Tơ Chiều

Một thoáng Đà Lạt - Thụy mộng ký sự (4)

Một đêm nào đó tôi lạc bước đến Cung Tơ Chiều. Trời lạnh căm. Trăng tròn vành vạnh trên đầu, vàng và lạnh, lạnh thê thiết như những niềm tâm sự không biết phải gửi vào đâu, không biết phải tỏ cùng ai, đành ngước nhìn lên trăng mà buông một tiếng thở dài, trong tâm tưởng. Phải chăng vì thế mà mỗi độ trăng rằm, sắc vàng kia lại thêm trầm sầu và băng giá. Đường lên quán không thênh thang rộng mở, chẳng rõ ràng phân minh, mà mờ tỏ ngoằn ngoèo một vệt như sương về trong những ngày nắng đẹp, như ngọn khói xanh xao lúc nửa khuya, như liêu xiêu lối nhỏ dẫn vào khung cửa hẹp. Ngự trên một đỉnh đồi thoai thoải nhìn xuống thung, quán nằm khuất sau những hàng cây cao sừng sững, e ấp như nường con gái đương thao thiết nằm chờ đấng trượng phu. Và đơn sơ như lòng người cô phụ, mỗi đêm về mong ấm chút hương yêu. Bước vào quán, tôi có cảm giác như bước vào một không gian khác hẳn, một cõi riêng khác hẳn, một nỗi niềm u uẩn khác hẳn, khác hẳn so với bên ngoài. Ở đây, ba mặt là kính, tôi có thể nhìn thấy rõ từng bụi cây, từng ngọn cỏ, từng dấu giày soi tỏ dưới trăng. Mọi thứ cứ bày ra trước mắt, gần gụi, nhưng dường như lại thật xa cách, thật huyễn hoặc, như không thể nào với tới, như không thể nào chạm được, như đó chỉ là những ảo ảnh về một chốn trần gian nào khác, khác với cái hiện tại nơi này. Không phải chỉ bởi cái lớp kính đang ngăn cách các chiều không gian, mà dường như còn có một lớp kính nào khác nữa, ở nơi đây, trong lòng người, đang dựng lên, đang bao phủ, đang che chở, đang bọc lấy một khối cô liêu quạnh quẽ linh hồn, một khối mẫn cảm, tinh tế và trầm lắng thương yêu. Tôi dường như đã tan biến vào cái không gian này, lắng nghe nó, thâm nhập và thăm dò nó trong một sự cẩn trọng sâu xa. Tôi bắt đầu trở thành không khí, trở thành khói, trở thành bóng dáng huyền hồ mờ ảo của những ký ức cổ xưa nhất, đang lang thang ngược về từ quá khứ. Cái ma lực đó, ma lực của những linh thông, những cảm ứng, những giao kết và hòa hợp đến lạ lùng đang từ từ pha trộn tôi trong từng hơi thở của những người có mặt nơi đây. Rồi tôi đã đánh động đến cái khối thanh khí mà tôi đang nhắm tới, bằng một sự thinh lặng tuyệt đối, bằng một sự tịch mịch tuyệt đối, bằng một sự thu hút tuyệt đối của những ẩn ức tàng trữ trong lòng nhân sinh. Chị xuất hiện như một người bình thường, một cô chủ quán nhỏ nhắn, mái tóc dài, đôi mắt sâu và đen láy. Gương mặt chập chờn trong ánh nến khiến tôi không nhìn rõ, nhưng có cần chi, gương mặt đó chỉ là lớp mặt nạ bên ngoài, rồi sẽ rơi rụng theo thời gian, cái quan trọng nhất, là cái khuôn mặt ở đằng sau, ở bên trong, thấp thoáng sau những hàng rào kiên cố của ngôn ngữ, của cử chỉ, của tính cách, của tình cảm, cái khuôn mặt chưa từng được sinh ra và cũng không từng được mất đi, khuôn mặt của sự bất diệt, của cái bản ngã phi thường đang hóa hiện trong cõi, khuôn mặt đó, là cái duy nhất tôi nhìn thấy. Bị lôi kéo bởi chính cái điều chị không thể giải thích được bên trong, mọi cử động của chị dường như đều đang hướng về tôi, thăm dò, quan sát, tìm cơ hội để đến gần và tìm hiểu. Tôi đã kiên nhẫn ngồi yên để chị xem xét cho thỏa, để chị được yên tâm trước sự lạ lẫm này đang dâng trào trong tâm hồn.

Chị hát. Hồn tôi rung lên dữ dội khi tiếng hát chị vừa cất lên. Giọng hát trầm khàn nhưng mãnh liệt, đôi lúc vùng vẫy như muốn thoát khỏi không gian, như muốn vươn lên phủ trùm lấy không gian, lấy thời gian, như muốn ngưng kết tất cả trong một làn âm ba tối thượng. Giọng hát buông ra chới với như muốn xé toạc không gian chung quanh, như muốn níu bóng người khách lãng du đang lay lắt đổ dài theo ánh nến, như muốn kéo lại gần niềm tâm sự của những tâm hồn cô đơn, lạc lõng giữa trần đời. Giọng hát đó, đi thẳng vào tim tôi không ngần ngại, không rào đón, không nghi hoặc, không e dè. Tôi nghe tiếng mình hát trong chị. Cũng như những buổi nào đó trong thuở sơ khai tôi đã nghe tiếng mình khóc trong tiếng người, tôi đã nghe tim mình đau trong tim người, tôi đã nghe nhiều nỗi lạc loài quạnh quẽ trong phận người, hồn tôi vỡ vụn thành nhiều giọt nhỏ, rơi đều xuống cung đàn, hòa vào đôi bàn tay đang lướt đi trên những cung bậc định mệnh đời nhau. Giọng hát đó, tiếng đàn đó, khiến tôi như nhìn thấy khuôn mặt em, cũng đang ảm về gục đầu xuống phím tơ, tay nhấn từng gam cảm xúc, khe khẽ hát ru tôi trong những đêm dài lạnh lẽo. Rồi chị ngừng hát, nhìn tôi như muốn hỏi gì, rồi buông ra vài câu bâng quơ dò tìm. Tôi im lặng và mỉm cười. Thế, tôi đã luôn luôn thế. Chỉ biết im lặng và mỉm cười. Cái nụ cười ngơ ngác và lặng lẽ, từ đó tỏa ra biết bao nhiêu là ý tình muốn gửi gắm, muốn trao đổi, muốn bộc bạch, muốn được cùng ai đó sẻ chia. Nụ cười không thành tiếng, không thành hình, không thành ý niệm, cũng chẳng thành bất kỳ điều gì có thể diễn giải trong lòng người, buông ra như một làn hơi thu hiu hiu buồn, như một tiếng sương rơi khẽ khàng, heo hắt. Mãi cho đến tận lúc phải ra về, ra về trong một sự nuối tiếc muốn được cùng ngồi lại, trong một nỗi luyến lưu muốn được cùng lặng thinh, tôi mới khó khăn cất giọng nói được vài lời xã giao nhạt nhẽo, vô vị, lạnh lùng và vô cảm, đọc cho chị nghe một câu thơ như một cách lấy lại cân bằng trước khi rời khỏi nơi này. Rời khỏi, nghĩa là sẽ ra đi. Ra đi, nghĩa là sẽ không quay lại. Không quay lại, nghĩa là sẽ mãi mãi không còn có phút giây này nữa. Có biết bao nhiêu lần trong đời tôi đã phải ra đi, ôm vào lòng tất cả những khát khao, những ước muốn, những hy vọng và đớn đau về một tình yêu trường cửu, về một khoảnh khắc thiêng liêng, về một niềm tin bất diệt. Người bên khung cửa tương tư. Ngoài chân mây khách lãng du ôm sầu. Hỏi ai đi giữa lòng nhau, có nghe một tiếng ca sầu thiên thu...

Sói Đồng Hoang

Thụy mộng ký sự - Người kịch sĩ

Thụy mộng ký sự - Thắp nến trên đồi

Thụy mộng ký sự - Người tìm về với thác nguồn


 


 

Tin mới trong ngày