phunu8_news_0.png

01/08/2015 - 08:42

Tôi đứng trên phà nghe gió sông Hậu thỏa thuê đùa cợt, mò mẫm trong mớ tóc rối, mơn trớn trên đôi môi khô nứt nẻ. Gió thốc vào tim, gió miên man trong hồn, gờn gợn, nhoi nhói. Lục bình gom nhau thành từng đám, trôi dạt lênh đênh, buồn da diết. Nỗi buồn nào đó xa lắm mà vẫn đau đáu, thăm thẳm nhức nhối như một vết thương lành miệng, thôi rỉ máu mà bên trong vẫn sưng tấy, mưng mủ.

Phụ Nữ 8 Người đàn ông của trời 2

Cũng tại bến sông này, Tùng đã bỏ tôi ra đi, dứt tình mà không kịp (hay không đành) nói một lời từ biệt. Một tuần rồi một tháng, lại một năm không tin tức. Tôi thấp thỏm, mong nhớ, ngóng trông. Rồi vài năm sau đó vẫn biệt tăm, chẳng thấy bóng anh quay lại. Tôi võ vàng, héo hắt như tàu chuối non bị người ta cắt xuống, đem phơi nắng. Dường như nước mắt tôi đã hòa vào dòng chảy của sông  Hậu đến cạn kiệt, ráo hoảnh để rồi trôi cả ra biển, hòa tan vào cái vị mằn mặn, đắng chát mất rồi. Và kể từ đó đến nay, tôi sống quay quắt trong thù hận lẫn yêu thương, trách hờn lẫn nhung nhớ, hy vọng để rồi thất thểu, tuyệt vọng. Trời ơi, Tùng vẫn chưa một lần quay trở lại. Người tôi yêu, cuộc sống của tôi lặng lẽ tan vào mây gió, đất trời hay đã thành bọt nước của con sông này mà xuôi mãi không về.

Mười tám tuổi, tôi đã rời Sài thành về với Tây Đô một lần để rồi muốn ở mãi nơi ấy. Tôi đã bỏ lại sau lưng phố xá nháo nhác những khói bụi, đua chen, hối hả, bỏ cánh cổng của hai trường đại học đứng bẽn lẽn, tẽn tò (ủa, nguời ta hổng cần tui sao thi cử làm chi để điểm đậu vô cao dữ vậy cà), bỏ luôn cái cung cách xa hoa của cô tiểu thư khuê các, bỏ cả ngôi biệt thự khang trang u uất tiếng thở dài thườn thượt của cha, rỉ rả lời than thở của mẹ “… chỉ có một mình nó, con nhỏ đến lạ kỳ nhưng khi đã quyết thì có Trời mà ngăn…”. Thế đó, tôi bỏ tất cả để giữ khư khư một chữ yêu, để say, để mộng rồi là đau, là đắng. Nhớ cái ngày gửi tôi lại Tây Đô cho dì Út, mẹ tôi nước mắt ngắn dài bảo “Sống không được thì về với mẹ nghen Thảo”.

Nhưng gần mười năm qua, tôi không rõ mình có đang sống được không nữa nhưng tôi vẫn không về. Vì cái tính bướng đến chết hay bởi lòng nghiệt ngã của đứa con gái bất hiếu? Chẳng biết! Tôi chỉ biết tôi muốn tìm gặp Tùng bằng mọi giá dù có rong ruổi cả đời, tôi cũng phải tìm cho gặp anh, tìm bằng được để trả lời cái câu hỏi đang nóng ran trong lồng ngực như than hậm hực cháy, âm ỉ đau “Sao anh dứt tình mà đi?”. Anh nỡ nào bỏ quên tôi, bỏ quên thứ mà người ta gọi là tình yêu, bỏ quên những gì được đặt cho cái tên kỷ niệm, bỏ quên như quên quyển tập, cây bút thời học trò vậy sao? Đơn giản vậy sao? Tôi quay cuồng trong cái nhớ xé ruột; tôi như điên dại vì chẳng biết ai sẽ trả lời cho tôi câu hỏi “tại sao” mà Tùng thì vẫn không về.

Phà cập bến hất tôi về với thực tại cay đắng không kém cái quá khứ mông lung. Xe lại tiếp tục lộ trình, qua hết nhưng con đường nhựa của nội thị Tây Đô đến những quãng đường đất tung bụi mù. Rồi cây cối, ruộng đồng, làng xóm hiện ra, mỗi lúc một nghèo hơn. Miền Tây đây mà. Tôi như nửa lạ nửa quen, nửa thương đứt ruột, nửa ghét thấu xương. Cái miền quê hồn hậu, đất ấm như người, người hiền như đất này chẳng rộng lòng dung nạp đứa con gái bẽ bàng như tôi, chẳng thèm một lần (thử) dang vòng tay đón tôi, ôm lấy con người ngổ ngáo, đáng thương hại này cho bớt tủi. Tôi phải đi cho kỳ hết, hết đất, hết đai, hết sông, hết suối, hết núi, hết biển để tìm xem nơi nào đã nuốt chửng Tùng của tôi, ngốn ngấu nghiến cả quãng xuân thời đầy ấp ước mơ, để rồi bây giờ muốn nếm vị ngọt hạnh phúc, tôi phải ép mình nằm mộng mỗi đêm, đến khi vụt tỉnh, chợt nghe nhói ở tim, thòm thèm hơi thở Tùng đến rơi nước mắt, mà là giọt nước mắt khô chảy vào tận cùng nơi nào đó sâu lắm trong lòng. Thủ phạm cướp đi hạnh phúc của tôi choáng váng, mất tăm kia có thể là sự nhẫn tâm, ruồng rẫy hay phần bội bạc từ trong vô thức của một người đản ông của Tùng, cũng có thể là sự hà khắc, cay nghiệt của Đấng sinh thành ( mà tôi vẫn thường thấy trong phim ảnh và những vở tuồng đẫm nước mắt) hoặc thủ phạm là  bóng hình một người phụ nữ khác mặn mà, duyên dáng, đảm đang hơn tôi nhưng có một thứ kém tôi, đó là bất hạnh. Tại tôi ngu quá, hơn gì không hơn lại chọn cái số bất hạnh mà hơn nên mất chồng cũng phải chứ sao. Nhưng dù có là gì thì tôi phải biết cặn kẽ mới được. Mà biết cũng chẳng để làm gì, chỉ để biết thôi. Như con chim nhỏ đang say sưa yêu đời, tíu tít hát ca bỗng thấy mình nằm lăn quay trên dĩa thành món rô-ti, chắc nó cũng muốn biết cái gì đã đưa nó từ cành cây lên cái dĩa chứ.

Tôi không kịp nén tiếng thở dài như rên làm Toàn “nhiếp ảnh” ngồi kế bên bồn chồn:

- Gì vậy Thảo?

- Hả? Tôi giật mình trong cái vô cảm, lạnh nhạt thường ngày (ngần ấy năm, quen sống trong đau rồi).

- Chuyến này về cái nơi khỉ ho cò gáy ấy, không biết có lượm lặt được gì cho bài phóng sự không, Thảo hen? Tôi ậm ừ cho qua, nghĩ thầm “Người gì vô duyên hết biết. Tôi đi cốt để tìm chồng chứ có quan trọng gì bài phóng sự đâu mà nói”.

- Thảo định đặt tựa đề gì cho bài này đây?

- “Xóm đạo”. Tôi lơ đễnh trả lời

Dường như lơ đễnh là một thói quen thường ngày từ lúc mất Tùng. Tôi đã lơ đễnh khóc, lơ đễnh cười, lơ đễnh nói và cũng lơ đễnh sống bên lề cuộc đời mà người ta đang sống. Khi tôi cố lê mảnh đời cay đắng của mình một cách khó nhọc thì vô tình chút xuân sắc chưa kịp phai ấy đã tàn nhẫn kéo theo cả chuỗi đàn ông oán giận, ấm ức, mà thương. Trong đó có Toàn. Họ tìm đến, săn đuổi tận tình nhưng khi mệt đừ mà thấy con mồi vẫn tít xa tít mù thì bỏ cuộc đến não nề. Thôi kệ, ai ở ai đi cũng mặc, mặc cả thời gian ngúng nguẩy trôi qua chất lên đời tôi thêm một tuổi. Nặng nhưng trống rỗng. Rồi chúng tôi cũng tới được cái nơi “khỉ ho cò gáy” theo kiểu nói của Toàn. Mệt đừ. Toàn nhìn quanh, quệt mồ hôi như thể người nông dân đi cày về.

- Buồn quá hen Thảo! Tôi cũng ừ à đáp lại nhưng lòng nghĩ “buồn gì mà buồn. Cảnh vật buồn có bằng cái buồn xuyên thấu trong tim tôi, gần mười năm mà vẫn thấy đau điếng không”.

Chiều rơi xuống từng giọt lê thê trên những mái lá xiêu xiêu. Cánh đồng gặt xong còn trơ gốc rạ cà tang trở về (cần gì phải vội, trâu hen!). Bất chợt có cái gì đó cồn cào trông tôi đến thảm não, hình như là nhớ. Ừ, tôi nhớ Tùng hứa rằng “ Về quê anh sẽ đem lên cho em cây lúa. Tưởng gì chứ lúa thì dễ ợt hà”. Dễ thế đó mà sao chờ mãi không thấy, Tùng ơi!

Tôi nghe như tiếng cười nói của Tùng buổi ấy còn văng vẳng đâu đây (hay trong tiềm thức) “Trời, heo con hả? Người ta nuôi chim kiểng, cá kiểng, nuôi chó, nuôi mèo chứ có bao giờ đòi nuôi heo con đâu trời..” “Ừ, thì để anh xin má cho”… Con đường đất nhỏ xao xác gió chiều nghe nghèn nghẹn. Mùi khói bếp nhà ai tỏa ra ngai ngái làm sống mũi tôi thấy cay cay “Biết đâu một trong số đó chẳng là ngôi nhà nhỏ ấm áp của Tùng với người phụ nữ nào khác xa lạ”.

- Tới rồi nè, Thảo! Toàn gọi giật, giọng mừng húm. Cũng ngôi nhà mái lá nền lót gạch tàu. Ông Tư (người Toàn giới thiệu là tía nuôi của ông già hồi đi kháng chiến) đón chúng tôi tận ngoài ngõ. Ông hồ hởi hỏi dồn:

- Mèn ơi, thằng Toàn, lớn dữ rồi bây. Còn ai đây? Tìm nhà dễ hông con? Thằng tía mày tệ, cả chục năm không dắt mày “dìa” chơi. May là báo trước hôm nay chứ không tao cứ tưởng thằng tài tử nào trên phố xuống. Con Nương, thằng Tũn đâu rồi? Ra đón anh nè bây!

Tôi nghe thằng nhỏ dạ lanh lảnh rồi chạy ra. Phía trong hàng rào dâm bụt, cô bé xinh xắn chừng mười sáu, mười bảy tuổi  bỏ vội mớ lá dừa khô đang bó, đứng dậy đỡ lấy cái túi của tôi. Người nhà quê đón khách thật nồng hậu mà sao tôi vẫn nghe tê tái buồn. Bữa cơm tối với canh chua nấu mẻ và đám cá rô kho, nằm ngơ ngác trong ơ đủ thời gian để tôi hiểu chút ít về gia cảnh của ông Tư. Gia đình neo con. “Tụi nó chết cả trong chiến tranh” Ông Tư chép miệng thở ra nặng trĩu. Còn lại đứa con gái, mẹ con Nương, thằng Tũn cũng làm góa phụ khi chưa đầy ba mươi thành thử phải đảm đương mọi việc trong ngoài nuôi cha già, con dại. “Quanh quẩn xứ này thì lấy gì mà ăn. Nó đi làm xa rồi. Nhà còn ba ông cháu đỡ đần lấy nhau. Xóm đạo này hả? Nghèo lắm, có gì đâu mà viết bây ơi!” Nói rồi ông già lại lẳng lặng, nhìn xa xăm mà nghe cái bụng ngổn ngang trăm mối lo. Cơm nước xong, ông già ra ngồi trước thềm, dựa lưng vào cây cột xiêu vẹo, ốm nhom ốm nhách, sần sùi, nhúm nhó như dáng người khắc khổ của ông. Ông rít từng hơi thuốc dài rồi phun ra những vòng khói nhợt nhạt, nhàm chán. Thỉnh thoảng ông nói gì đó với Toàn không rõ, chốc chốc lại ho khục khặc. Tôi phụ Nương dọn rửa mâm chén. Cô bé xinh lạ. Nước da hơi ngâm (chắc tại dang nắng) nhưng duyên. Dáng người nho nhỏ, đôi bím tóc ngang vai tươm tất, đôi mắt đen trong trẻo và khóe môi rất chân quê làm tôi nhớ lúc tôi trạc tuổi Nương bây giờ rồi chợt thèm.

- Nương à, xóm đạo này có gì đặc biệt không em? Tôi buột miệng hỏi Nương theo thói quen nghề nghiệp cần khai thác để viết bài.

- Nhóc chị ơi! Nhưng chị hỏi về gì?

- Gì cũng được. Theo em điều gì là đặc biệt nhất? Nương mím môi suy nghĩ ( hay cố giấu một nụ cười trìu mến). Đôi mắt đen lay láy chợt lúng liếng, lấp lánh tia nhìn yêu thương như tôi ngày ấy, lúc kể với ai đó về Tùng.

- Người ấy là đặc biệt nhất đó. Ai cũng thương.

- “Người ấy”? Nương cười. Trong cái chập choạng, nhá nhem, tôi vẫn nhận ra đôi gò má cô bé mười bảy tuổi chợt hồng, xinh như thiếu nữ lần đầu biết yêu. Tôi lại thấy xót xa nhớ Tùng.

- Là Cha đó, chị.

- Cha? Linh mục hả?

- Dạ! Còn trẻ lắm. Rồi Nương say sưa kể, hào hứng như người ta diễn thuyết. Tôi được biết về một linh mục trẻ tuổi, đầy tâm tình và nhân hậu. Tôi có tư liệu rồi đây. Một người dâng mình cho Chúa, hết lòng lo cho họ đạo, cả ngàn giáo dân chứ ít gì mà nhà nhà nghèo, ai ai cũng nghèo. Tôi thầm cảm phục như khi nghe người ta nêu gương người tốt, việc tốt.

- Trẻ lắm hả? Có đẹp trai hôn cưng? Tôi ghẹo.

- Đẹp. Phúc hậu lắm chị. Mà giọng nói cũng ấm nữa. Cha cười nhìn đẹp mà hiền quá, hen Tũn. Thằng nhỏ chừng mười tuổi nãy giờ đang hóng chuyện hay bận dòm người thành phố chẳng biết (mà phải gọi là khách thập phương mới đúng vì tôi có bao giờ xem đâu là nhà từ khi mái nhà mơ ước với Tùng vụn vỡ, dập nát, cũ mèm mà vẫn nghe nhói) nghe chị hỏi, nó giật mình rồi thẽ thọt gật. Tôi thấy buồn cười quá. Nhưng rồi nghiêm túc:

- Mai cưng dẫn chị đi gặp cha nghen!

- Dạ! Gì chứ “dụ” đó dễ ợt hà.

Trời. Cũng lại “dễ ợt” nhưng đã có người thất hứa còn gì. Đêm đến, nằm cạnh Nương trên chiếc chõng tre trong ngôi nhà ọp ẹp mà tôi cảm nhận tim mình quặn đau đến hấp hối rồi chợt như có ai đó nghiến răng thắt lại. Tùng của tôi trước đây cũng có nụ người đẹp lạ, nhẹ mà sâu, giọng nói ấm áp, hiền, làm người ta thấy thương đến nao lòng. Nương làm tôi nhớ quá. Mà có riêng gì điều Nương kể, từ khi bước vào ngôi nhà nhỏ, đơn sơ mà tinh tươm, gọn gàng này, tôi đã thấy ngay cây thánh giá nhỏ, trên có treo một hình hài rời rã đến thống khổ mà người có đạo hay vô tín như tôi biết gọi là Chúa Jesus. Một bên là tượng người nữ trong sáng như sương buổi sớm được gọi là Đức mẹ Ma-ri-a. Có lần, Tùng kể với tôi câu chuyện Mẹ được ơn, đồng trinh sinh Chúa Kito. Tôi lắng nghe như đứa bé con mê truyện cổ tích. Quỳ bên anh trong ngôi giáo đường hay cùng anh sánh bước dưới lầu chuông mà tôi thấy như mình đang đi trong thần thoại. Vậy mà có lần tôi đã muốn học đạo, muốn tha thiết vì yêu anh. Xa lắm rồi một ước vọng. Tôi biết chắc mình sẽ đau như ai cầm cái kim vít lại vết thương cũ nhưng tôi cứ đến đây, cứ chọn viết bài về Xóm Đạo. Biết giờ này, Tùng của tôi đang ở nơi nào. Tôi thiếp đi trong ngàn nỗi niềm khắc khoải…

Tiếng mái chèo khua nước của những con đò ngang kênh nhỏ lôi tuột tôi ra khỏi giấc ngủ mệt nhoài. Tôi trở dậy, bước ra ngoài hè đã thấy ngay thau nước còn âm ấm và chiếc khăn mặt vắt sẵn trên sào. Nhỏ Nương đang lụi hụi trong bếp, thấy tôi, nhoẻn miệng cười trong vắt:

- Anh Toàn để sẵn cho chị rửa mặt đó. Ảnh cũng tốt ghê, hen chị. Tôi mỉm cười không đáp Nương mà hỏi bâng quơ:

- Làm gì vậy cưng?

- Em luộc khoai. Ông ngoại biết sáng nay dẫn chị qua nhà thờ gặp Cha nên biểu em luộc thêm ít khoai đem qua bển. Tôi nhìn Nương tự dưng thấy thương thương như thương hình ảnh mình mười mấy năm trước.

- Chị, anh Toàn biểu nhắn là ảnh đi chụp ảnh gì đó, đi từ sớm rồi. Tôi ừ đại một tiếng rồi kéo cái khăn trên sào nhúng vào thau nước. Đây cũng là một trong những ý tứ chu đáo của Toàn. Tôi không hiểu sao Toàn chưa ra đi mà cứ quanh quẩn, bám víu vào cái niềm an ủi mong manh là được chăm sóc tôi. Tôi biết Toàn yêu tôi đến tuyệt vọng nhưng tôi còn làm gì hơn được ngoài câu nói (tôi nghe vô duyên hết sức) buông thõng: “Thôi, Toàn quên tôi đi, đừng yêu nữa”. Bởi dì Út tôi đã từng chắc lưỡi, lắc đầu , tiếc hùi hụi đứa cháu gái “Hồn con Thảo này, thằng Tùng đem đi mất rồi”.

- Í, mèn ơi, môi chị chảy máu kìa. Nương nhìn tôi, chợt kêu lên nghe đau điếng.

- Ừ, môi chị bị khô trường kỳ nhỏ ơi, nứt, chảy máu hoài. Kệ! Không đau sao được, ngoài cha mẹ tôi còn nhớ thì gần mười năm nay có ai để ý nhắc tôi như lần cuối cùng tiễn anh về thăm nhà, (để rồi biệt tăm), lời anh vẫn khua động một mé sông dù thật trầm ấm “môi em khô nữa rồi”. Bây giờ, mười năm sau, nhỏ Nương phát hiện lại như đứa bé bi bô lần đầu biết có mặt trăng treo trên bầu trời nhưng nó làm lòng tôi héo queo héo quắt vì nhớ Tùng. Tôi thay quần áo, chải lại đám tóc già cỗi, vụng về. Thằng Tũn đứng trố mắt nhìn như người ta tò mò dòm cô dâu trong đám rước. Nó khếch mũi khịt khịt:

- Ui, chị có tóc bạc kìa. Mẹ em cũng có… Rồi bỏ lửng câu nói bùi ngùi. Tôi cười bâng quơ (chắc để che cái vẻ mặt méo xệch, đau khổ).

- Ừ, già rồi mà cưng. Chữ “già” rớt ra từ miệng mà thấy đâu như cấu véo. Nhỏ Nương bưng rổ khoai luộc còn nghi ngút khói đi lên, cười cười:

- Chị ăn khoai nè.

- Thôi, khỏi đi cưng! Sáng sớm vầy, ăn sao vô ( mà buổi nào tôi cũng cố nuốt thức ăn thật khó nhọc như người mới bệnh dậy đó thôi. Tôi cảm thấy xong mỗi bữa ăn là một kỳ công lớn lắm). Chia ít khoai để phần ở nhà, Nương cắp rổ bên sườn, với lấy cái nón lá rồi chúng tôi cùng đi. Tôi thấy được chút nôn nao trong tâm hồn cô bé miệt vườn này qua hơi thở phập phồng.

- Đi gấp dữ hen. Chị qua cầu khỉ không kịp đâu nha cưng! Chắc cưng thân với “Cha” đó lắm hả? Nương tủm tỉm, thẹn thò lời bào chữa:

- Ở đây ai cũng thân, cũng thương mà chị. Chiếc áo bà ba màu bông súng nổi trên nền nắng sớm vàng dìu dịu làm cô bé thêm xinh. Tôi thầm thì “hồn quê”. Ừ, đằm thắm làm sao. Chúng tôi đi qua mấy con đường đất nhỏ xíu, ngoằn ngoèo như con rắn trườn mình oằn oại. Lũ chó nhà ai kéo ra la hét inh ỏi thứ ngôn ngữ riêng, lạ lẫm, chẳng biết là chào hay chửi. Cuối cùng tôi cũng thấy thấp thoáng tháp chuông cao cao, trầm mặc của ngôi thánh đường đứng chào khách lạ. Không ngờ nơi miền quê heo hút này lại có được ngôi nhà thờ khang trang, đẹp đến vậy. Nương bảo cũng là công của vị linh mục trẻ tuổi kia vắt kiệt mồ hôi, tâm sức vào từng viên gạch, cát, đá mà thành. Kể ra cũng đáng nể lắm chứ nhưng có lẽ tôi đã kết bạn với thờ ơ từ ngày mất Tùng nên cũng không mấy thu hút hay tôi đang rối rắm trong mớ bòng bong, tìm cách xâu chuỗi lại đám tư liệu rời rạc mà chưa ra. Một con vật gì mặt bần thần bước ra (mãi lúc sau, tôi mới nghĩ đó là con chó vì nó trầm lặng, chẳng phản ứng gì bằng tiếng sủa. Chắc tại sống trong nhà thờ, đón khách nhiều đâm quen nên mới bình thản thế chứ) dòm tôi. Rồi thằng bé trạc chín, mười tuổi gì đó đang làm cỏ ngoài sân ngẩng lên thấy chúng tôi, ngỡ ngàng (nhìn tôi) và thân thiện ( dành cho Nương)

- Ủa, chị Nương đến chi? Tìm ông cố hả?

- Ừ, có khách nè cưng. Đi đâu rồi?

- Ông cố vừa ra chợ thăm chú Tám đau. Về liền hà. Chị vô đợi chút.

Tôi tò mò hỏi Nương:

- Trời, ông cố nó còn sống hả? Thọ dữ hén, mà mình tìm Cha ở đây chứ gặp ông cố nó làm gì, cưng? Tôi chưa kịp dứt câu Nương đã bụm miệng cười:

- Mèn ơi, ông cố là nó kêu Cha đó chị. Ở đây tụi nhỏ gọi Cha bằng ông cố.

- Trời, Ông cố lận hả? Còn trẻ bị gọi vậy thiệt thòi chết.

- Làm lớn sướng chứ sao. Gọi cố vậy chứ coi bộ êm mà ngộ dữ dằn luôn. Tôi mỉm cười, cũng muốn xem người Nương kể “ngộ” cỡ nào. Tôi theo chân Nương trong dãy hành lang dài  và dừng ở một căn phòng nằm đằng cuối.  Căn phòng mở sẵn cửa, bên trong khá đơn giản, ngăn nắp. Phòng nhỏ nhưng gọn, sạch và sáng sủa. Vài cuốn sách xếp ngay ngắn trên bàn giấy. Phía trước là bộ bàn ghế gỗ mộc mạc để tiếp khách. Đây là thói quen quan sát của một phóng viên để đoán trước về nhân vật mình sắp tiếp xúc. Chúng tôi đành ngồi đợi. Mà rảnh rỗi chẳng biết làm gì, tôi lại có dịp để nghĩ về Tùng rồi nhớ đến hoảng hốt. Tôi đứng bật dậy, phải làm gì đó cho khuây khỏa. Tôi bước ra ngoài để ngăn dòng suy tư bất tận đang chảy cuồn cuộn như bão lũ. Nắng đã đậm màu, hơn hớt chạy nhảy khắp nơi, cười cợt lũ hoa đang bị bọn bướm ong trêu ghẹo “thế nào rồi nó cũng bay mất tăm mất tích cho coi”. Bất chợt, tôi cảm nhận một luồng hơi thở rất quen, rất gần:

- Xin lỗi, tôi là linh mục Tùng đây, cô là…

Tôi thảng thốt quay lại. Trời ơi, môi tôi mấp máy, run rẩy không bật lên thành tiếng. “Tùng!” Tôi nghe mọi suy nghĩ xáo trộn, đầu óc quay cuồng, ruột, gan, tim, phổi nhảy nhót chẳng theo một quy cách nào. Rồi thì không biết gì nữa…  Tôi hồi tỉnh lại trong căn phòng lạ hoắc nhưng trên chiếc giường nhỏ còn phảng phất mùi thể xác quen thuộc, không lẫn vào đâu được. Tùng đứng chết lặng bên giường. Nương đứng sững người trong góc. Ba phọ tượng đá đang cố giãy giụa mà không sao thoát được cái không gian đặc sệt đang cứng dần, nặng dần như hồ khô. Tôi nhìn lên trần cố nghĩ xem điều gì đã xảy ra. Tôi phải biết gì đây? Ừ, phải rồi, sau năm đầu bặt tin, tôi có nhận được lời nhắn của Tùng, chỉ vỏn vẹn ba chữ: “Chúa gọi anh”. Lúc đó, tôi không nghĩ được gì, một phần vì quá đau khổ, một phần vì thuở ấy tôi có hiểu “Chúa gọi” nghĩa là sao đâu. Với một đứa con gái theo chủ nghĩa duy vật như tôi thì khái niệm kia hoàn toàn mù tịt. Vậy là thế nào, là thực tế bây giờ đó sao? Tôi không tin được, ngơ ngác nhìn Tùng, nhìn tận mặt mà chẳng nói nổi một lời. Anh ốm hơn trước nhưng vẫn là Tùng của tôi đây mà. Tôi run rẩy lắp bắp: “Anh…”. Tùng bần thần, thờ thẫn. Lúc này, tôi mới thấy nước trong đôi mắt đen tròn, lay láy của Nương. Cô bé “thưa Cha” rồi bỏ chạy ra ngoài. Tùng vẫn lặng thinh, không chút phản ứng. Tôi nói như mộng du:

- Anh… ở đây? Ngần ấy năm…?

- Anh… tôi… xin lỗi Thảo! Tôi nghe xót xa như ai lấy muối chà xát. Mười năm đau đáu nhớ thương, khắc khoải mong chờ, dong ruổi tìm kiếm bóng chim tăm cá. Phải mà, tôi đã đợi Tùng đến lỡ duyên lỡ nợ, lỡ xuân lỡ sắc, chờ đến héo hắt, mỏi mòn, rồi số phận éo le xuôi khiến gặp nơi đây để nghe hai tiếng “xin lỗi” gọn lỏn của anh sao? Tôi bỗng thấy căm ghét tất cả. Tôi ghét cái chốn này quá. Ghét cả con người đang treo thân  trên thập tự giá kia. Tại sao? Tại sao lại cướp đi tình yêu, cuộc sống của tôi? Tâm hồn tôi gào thét trong câm lặng, vật vã trong cái thể xác chết trân, đờ đẫn. Rồi tôi chợt ngang bướng, vô lý:

- Anh… đi đi! Ra ngoài! Để cho tôi yên!

Lúc một mình, tôi thèm được gặp anh để rồi bây giờ có anh bên cạnh, tôi lại bỗng muốn được một mình. Bởi lẽ, anh đứng gần tôi đây mà như có một khoảng phân cách không san bằng nổi. Tôi biết lấy gì để lấp vào chỗ trống rỗng đến sượng sùng này đây? Tùng ra ngoài rồi, tôi không biết mình đã ngồi bao lâu trong căn phòng ấy, không cử động. Chỉ biết khi tôi bước ra cửa thì nắng đã nhạt thếch như hơi thở yếu ớt cuối cùng của người đang trong cơn hấp hối. Tôi đã cố ép mình phải tin nhưng không thể cho đến lúc Tùng bước lại gần tôi. Bây giờ tôi mới đủ bình tĩnh để nhìn rõ anh lần nữa, nhìn tận tường. Vẫn nét hiền hòa, thánh thiện lạ lùng hằng ngự trị tâm trí tôi, làm chao đảo trái tim tội nghiệp của tôi, chỉ khác là anh mặc áo dòng. Chỉ khi nhìn anh khoác chiếc áo ấy lên dáng vóc thân thương ngày nào tôi mới nghĩ Tùng là Cha Xứ. Anh bây giờ không còn thuộc về tôi nữa rồi. Anh là của mọi người mà không của riêng ai. Tôi cũng không dám gọi “Tùng của tôi” nữa.

- Thảo còn mệt không? Chờ lễ xong rồi ăn cơm nha! Bây giờ… phải qua bên nhà thờ.

Nói rồi Tùng quay lưng đi, bình thản, nhẹ nhàng trong tiếng chuông đổ dồn hối hả. Nhưng tôi biết lòng anh đang khóc vì Tùng đã quỳ trong nhà thờ rất lâu trước giờ lễ. Còn tôi đã ngồi ở hàng ghế cuối trong nhà thờ nhìn anh, ngỡ ngàng, chết lặng. Tôi xem anh dâng lễ, lắng nghe từng tiếng kinh cầu. Hôm ấy, anh giảng về sự hy sinh, rằng: Chúa vì yêu sẵn sàng từ bỏ vinh hiển, đến trần gian chịu chết đền tội thay loài người. Cái chết đau đớn và sự sống lại vinh quang ấy nhắc chúng ta phải biết sống cho nhau, yêu thương, san sẻ và hy sinh cho mọi người… Tôi chỉ nhớ được bao nhiêu đó. Lời anh cứ văng vẳng trong tâm trí tôi sau giờ lễ. Lần đầu tiên tôi đã quỳ lại trong nhà thờ và khóc, khóc thật nhiều nhưng là giọt nước mắt thật, nóng ấm chảy dài trên mặt, Tôi nhớ lại tất cả, nhớ đến Nương và tình yêu đầu đời cô bé dánh cho Tùng. Nhớ đến những điều Tùng dành cho Thiên Chúa, cho mọi người mà cụ thể là những con người ở đây, một miền quê nghèo heo hút. Tất cả trôi dần theo nước mắt, chảy đi hết. Và trong cơn mộng du nào đó, tôi đã nghe một giọng nói rất êm dịu từ cây thánh giá “Con ơi, ta yêu con! Vì con, ta không tiếc sự sống mình, chịu chết đau đớn, lãnh mọi sĩ nhục trong cơn khổ nạn, để dạy cho con hai hy sinh và viết lên một tình yêu vĩnh cửu”. Giấc mơ kéo tôi đến gần hình hài của một thống khổ nhân duy chỉ có đôi mắt vẫn nhân từ, trìu mến như mời gọi, đón chờ. Lòng tôi vỡ òa theo nước mắt. Có lẽ Tùng nghe được từng tiếng nấc trong nức nở, nghẹn ngào của tôi nhưng anh sẽ không bao giờ hiểu hết được vì sao tôi khóc. Tôi bước ra khỏi nhà thờ. Bóng chiều đã chênh chếch trên cảnh vật. Hoàng hôn buông xuống lặng lẽ nhưng không mơ hồ. Lòng tôi chợt thấy nhẹ nhõm đến lạ lùng dù tôi vẫn chưa biết bây giờ mình phải đi về đâu. Tôi đang bước qua quá khứ, để lại sau lưng xóm đạo, giáo đường và bóng ai đó nơi lầu chuông đang đăm đắm nhìn theo. Rồi đây không chỉ có tôi, có Nương, mà còn những Nương khác nữa phải bước qua quá khứ, để nhớ hay để quên không ai rõ vì Tùng đã chọn lựa.

Chỉ còn anh ở lại với chính mình và tiễn từng người đi qua cuộc đời anh với lời chúc phúc nghe man mác. Bất giác, trong tâm trí tôi hiện lên một dòng tu nữ ở nơi xa xăm nào đó, thấp thoáng trên con đường định mệnh phía trước. Tôi thì thầm gọi anh: “Người đàn ông của Trời”.

Tuấn Ngọc Du

 

Tin mới trong ngày