phunu8_news_0.png

You are here

06/11/2014 - 14:57

Có những nhạc phẩm cổ điển đã đi vào lòng người qua nhiều thế hệ. Và câu chuyện, thậm chí các huyền thoại, xoay quanh sự ra đời của chúng khiến công chúng rất tò mò…

Với số đông công chúng, nhạc cổ điển khó nhớ ở… cái tựa. Rất nhiều bản nhạc cổ điển đã được sử dụng trong cuộc sống đời thường, từ tiếng nhạc lui xe, tiếng chuông điện thoại, nhạc nền các chương trình trên truyền hình v.v… nhưng ít ai nhớ được tên của các bản nhạc đó, phần thì ít quan tâm, phần thì các bản nhạc cổ điển thường được đánh số dài ngoằng.

Những bản nhạc sau đây có thể rất quen thuộc với bạn và đằng sau nó là những câu chuyện thú vị.

Câu chuyện về “Giọt mưa” của Chopin

Hình ảnh Chopin và George Sand được tái hiện trong bộ phim Impromptu

Nếu nhắc đến bản Nocturne Opus 9 No.2 của Chopin nghe có vẻ rối rắm vì các con số nhưng khi nghe bản nhạc này, dù được trình tấu bởi bậc thầy Arthur Rubinstein hay một tay đàn vô danh nào đó cũng dễ dàng nhận ra đây là một bản nhạc rất quen thuộc, thường được sử dụng trong trên truyền hình, từ các vở kịch trong nhà ngoài phố cho đến phim… Hoặc khi nhắc đến bản prelude có tên là Giọt mưa thì sẽ dễ nhớ hơn “bản prelude số 15 trong 24 bản Prelude, Opus 28 của Chopin”

Một số bản prelude này được viết trong giai đoạn Chopin yêu đương cùng nữ văn sĩ George Sand. Trong mối quan hệ kéo dài đến 9 năm, có một chương đáng chú ý là mùa đông khắc nghiệt ở Majorca, một đảo ở vùng Địa Trung Hải vào năm 1838-1839. George Sand đã dẫn 2 con của mình cùng Chopin đến đây nghỉ dưỡng với hy vọng cải thiện sức khỏe đang suy kiệt của Chopin. Tuy nhiên, khi biết Sand và Chopin chưa hề kết hôn, những người dân sùng đạo ở Majorca tỏ thái độ thiếu thiện chí, gây khó khăn cho họ trong việc tìm chỗ trọ. Cuối cùng, Sand và Chopin phải ở một tu viện cũ, lạnh lẽo và ảm đạm.

Người dân Majorca còn gây khó khăn khi Chopin chuyển cây đàn dương cầm Pleyel của ông từ Paris tới. Chiếc đàn bị hải quan giữ lại và đòi số tiền thuế lớn đến mức không chấp nhận được. Chopin phải luyện tập và sáng tác bằng một cây đàn thuê cũ kỹ. Ông cũng than phiền về sức khỏe của mình cũng như sự yếu kém của các bác sĩ ở Majorca. Ông viết trong nhật ký: “Tôi ốm như một con cún trong vòng 2 tuần lễ. Có 3 bác sĩ khám cho tôi, người đầu tiên nói tôi sắp chết, người thứ 2 nói tôi đang trút hơi thở cuối cùng còn người thứ 3 thì nói tôi chết rồi.”

Cuối cùng, George Sand đồng ý trả hải quan 300 franc (phân nửa số tiền yêu cầu) để chuộc cây đàn, Pleyel và Chopin đã soạn được rất nhiều tác phẩm trong vòng 5 tuần lễ, ngoài các bản prelude còn có các bài polonaise, mazurka, ballade, scherzo… Mùa đông ở Majorca được xem như một trong những giai đoạn Chopin có năng suất sáng tạo nhiều nhất.

Nhưng thời tiết khắc nghiệt ở Majorca đã ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của Chopin nên họ phải rời hòn đảo này. Cây đàn yêu thích lại thành trở ngại lớn nhưng George Sand cũng sắp xếp bán lại nó cho một cặp vợ chồng người Pháp ở đó và con cháu gặp vợ chồng này đang là người chăm sóc các di sản của Chopin ở Majorca cũng như bảo tàng của ông ở Valldemossa.

Hai khúc nhạc kinh điển của Mozart

Chân dung Mozart

Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ - đoạn nhạc rất quen thuộc mà chắc chắn khi được tấu lên, ai cũng dễ dàng nhận ra nhưng nguồn gốc của bản nhạc này thì hơi dài dòng, không phải ai cũng nhớ được. Có tên chính xác là “Rondo Alla Turca”, Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ là chương 3 trong bản sonate cho dương cầm số 11 cung La trưởng của nhạc sĩ cổ điển Mozart. Đây là một trong những khúc nhạc cho dương cầm nổi tiếng nhất của Mozart, mô phỏng một ban nhạc quân đội thời Phổ, một trong những dàn nhạc chơi hành khúc cổ xưa nhất. Bên cạnh bản nhạc quen thuộc này, Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ còn để chỉ 2 bản nhạc khác của Beethoven.

Dĩ nhiên là với cái tên Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ thì sẽ dễ nhớ hơn rất nhiều so với chương 3 bản sonate cho dương cầm số 11 cung La trưởng của Mozart hoặc chương cuối bản Symphony số 9 của Beethoven…

Trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Mozart, “Eine Kleine Nachtmusik” được nhiều nhà phê bình xếp ở hàng đầu về mức độ phổ biến trong số đông công chúng. Với cái tên chính thức là bản Serenade số 13 cho đàn dây cung Sol trưởng, K. 525, “Eine Kleine Nachtmusik” có nghĩa nôm na là một khúc nhạc đêm. Bản nhạc được lưu vào catalog cá nhân của Mozart ở mục “Eine Kleine Nachtmusik” nên từ đó, gắn với tên bản nhạc này. Chắc chắn là Mozart không đặc biệt chú ý đến tác phẩm này nên chỉ lưu vào như thể mình đã vừa viết xong một bản serenade nho nhỏ. Một nhà phê bình đã nhận xét “thậm chí nếu chúng ta nghe bản nhạc này ở mọi góc đường thì chất lượng của nó là không phải bàn cãi, một bản nhạc tình cờ được viết bởi một cây bút nhẹ nhưng hạnh phúc.”

Dĩ nhiên, Mozart còn nhiều tác phẩm “nặng” khác nhưng số đông công chúng không cần am hiểu nhạc cổ điển cũng có thể biết đến tài năng của ông qua các khúc nhạc ngắn như Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Một khúc nhạc đêm ngắn.

“Tình câm” của Beethoven với nàng Elise

Chân dung Beethoven

Tương tự, “Fur Elise” (được dịch văn hoa qua tiếng Việt là “Lá thư cho Elise”) cũng là một trong những khúc nhạc quen thuộc nhất của Beethoven trong khi cái tên chính thức của đoạn nhạc này chắc hiếm ai nhớ nổi “bản Bagatelle số 25 cung La thứ” đánh số theo “Biamonti Catalogue” là 515 còn đánh số theo “Những tác phẩm không có số opus” là 59. Huyền thoại xung quanh bản nhạc quen thuộc này thì nhiều vì không ai chắc Elise là ai.

Tác phẩm này chỉ được xuất bản vào năm 1867, 40 năm sau khi Beethoven đã qua đời và người phát hiện ra, Ludwig Nohl, xác nhận bản thảo do Beethoven viết tay vào ngày 27 tháng 4, không xác định rõ năm, trong khoảng 1800 hoặc 1810 hoặc cũng có thể khoảng thời gian sau đó.

Vì bản thảo đã bị thất lạc nên có giả thuyết cho rằng tên bài đã bị viết nhầm, đúng ra phải là “Für Therese.” Therese ở đây là Therese Malfatti von Rohrenbach zu Dezza, con gái một thương gia ở Vienna, là bạn của Beethoven và từng được ông cầu hôn vào năm 1810. Nhưng Therese đã từ chối ông và cưới một quý tộc người Áo.

Vì tác phẩm quá nổi tiếng nên các nhà nghiên cứu về Beethoven quyết truy tìm nguồn gốc Elise và có 2 cái tên Elise được đưa ra trong đời ông: nhà thơ Elise von der Recke, người ông gặp năm 1811 và nghệ sĩ dương cầm Elise Möller, người ông gặp ở Vienna năm 1820.

Theo giả thuyết mới nhất, có nhiều bằng chứng cho thấy Fur Elise được viết năm 1810 và dành cho giọng hát soprano người Đức Elisabeth Röckel. Bà là em gái của giọng tenor Josef August Röckel, người diễn vai Florestan trong vở opera của Beethoven "Fidelio" vào năm 1806. Elisabeth đến Vienna năm 1807 và trở thành bạn thân của Beethoven vào năm 1808, điều này phù hợp với giả thuyết bản nhạc này được sáng tác năm 1810. Sau này Elisabeth kết hôn với nhà soạn nhạc người Áo Johann Nepomuk Hummel. Mức độ thân thiết giữa Beethoven và Elisabeth chưa được xác nhận nhưng trước khi ông qua đời, bà được ông tặng một cây viết lông ngỗng cũng như có một mẫu tóc của ông làm kỷ niệm.

Thậm chí, còn có một giả thuyết khác rằng bản thảo “Fur Elise” có chữ viết tay của Beethoven chưa từng tồn tại và bản nhạc này được Ludwig Nohl phát triển từ một bản nháp. Tuy nhiên, giả thuyết này không vững bởi có đến 2 bản nháp còn lưu giữ được của Beethoven rất giống với bài Fur Elise, từ bản nháp này cho đến bản hoàn chỉnh đã được xuất bản gần như tương tự và không có nhiều chỗ chỉnh sửa lớn.

TRÍ QUYỀN

Tin mới trong ngày